Dự phòng điểm ngõ ra khi thiết kế
Sản phẩm mang mã 6AG1322-1HH01-2AA0 là module SM 322 ngõ ra số dùng đầu nối 20 chân, thuộc dòng SIPLUS S7-300 của Siemens.
Khi tính số điểm ngõ ra cho một tủ, việc dự phòng thường được nhắc tới nhưng ít khi được thực hiện đúng cách.
Dự phòng phải thực sự sẵn sàng
Nhiều tủ có điểm trống trên module nhưng chưa có dây kéo tới cầu đấu. Khi cần dùng, người thực hiện vẫn phải mở máng, kéo dây mới, và làm lại phần đánh số.
Nghĩa là phần dự phòng đó không tiết kiệm được bao nhiêu so với việc bổ sung module mới, và trong nhiều trường hợp còn phải dừng máy để thi công.
Dự phòng đúng nghĩa là điểm đã có dây kéo sẵn ra cầu đấu, đã đánh số, và đã ghi vào bảng địa chỉ với ghi chú là chưa sử dụng. Khi cần, chỉ việc đấu thiết bị vào và khai báo trong chương trình.
Bao nhiêu là hợp lý
Với máy đã ổn định và không có kế hoạch thay đổi, khoảng mười tới mười lăm phần trăm số điểm là đủ.
Với máy còn trong giai đoạn hoàn thiện hoặc phục vụ sản phẩm hay thay đổi, nên dự phòng nhiều hơn vì các yêu cầu cải tiến sẽ tới liên tục trong vài năm đầu.
Kinh nghiệm cho thấy các điểm bổ sung sau khi máy vào sản xuất luôn nhiều hơn dự tính, và nguồn phát sinh chủ yếu là những tình huống mà giai đoạn thiết kế chưa lường hết.
Ghi rõ trong tài liệu
Các điểm dự phòng nên được đánh dấu rõ trong bảng địa chỉ, kèm ghi chú về vị trí cầu đấu tương ứng.
Không có ghi chú này, người thực hiện lần cải tiến sau sẽ không biết có sẵn dây, và sẽ kéo dây mới một cách không cần thiết. Đây là tình huống xảy ra khá thường xuyên khi người thiết kế ban đầu không còn làm việc tại nhà máy.
Điều kiện cung cấp
Thiết bị mới 100 phần trăm, bảo hành theo chính sách chính hãng, xuất hóa đơn VAT, hỗ trợ CO/CQ khi cần. Anh chị liên hệ nhân viên tư vấn để được hỗ trợ tính số điểm. Dự án xin gửi qua Vietautomation.com.
Về phía chương trình, các điểm dự phòng nên được đặt tên biến ngay từ đầu với ký hiệu cho biết chưa sử dụng, thay vì để trống hoàn toàn. Cách này giúp người lập trình sau nhìn vào bảng biến là biết ngay điểm nào còn rảnh, và cũng tránh tình trạng hai người cùng dùng một địa chỉ cho hai mục đích khác nhau ở hai thời điểm.










